ý kiến của các tác giả : thái tuấn, nguyễn trọng khôi, hồ thành đức, lê thành nhơn, khánh trường, trịnh cung, ngọc dũng, nghiêu đề, đinh cường, rừng, ...

 

Họa sĩ Thái Tuấn

1.
trả lời Nhà phê bình Thụy Khuê
(tạp chí Văn Học số 66, tháng 8-1991)

...Quan niệm về nghệ thuật riêng của tôi, tôi cho rằng tính chất nghệ thuật có nhiều khác biệt so với văn học , cái đẹp trong tác phẩm nghệ thuật không hề là tư tưởng, nó là một thứ tình cảm, như tình yêu thương. Nó đòi hỏi sự cảm thông chứ không có truyền đạt. Lấy cái lý của khoa học không thể xây dựng được cái đẹp và có phần phản lại cả khoa học

Dù muốn dù không thì, vì có nhu cầu của con người mới có nghệ thuật. Nói đến Nghệ thuật là nói cái đẹp như một yếu tính của nó. Con người đi tìm cái đẹp chứ cái đẹp không đi tìm con người để phục vụ.

Tác phẩm Nghệ thuật không những chỉ phản ảnh tâm hồn mà phản ảnh toàn diện con người của tác giả, một cách trung trực, không lựa chọn, không che giấu một điều gì về tác giả. Người ta có thể nói dối bằng một câu văn, không thể nói dối bằng nét bút .Tuy nhiên ngày nay đã có máy chữ, máy in,sự nói dối có thể dễ dàng hơn chăng?

 

Sự học hỏi của tôi về kỹ thuật rất là tùy tiện, chẳng theo một phương pháp nào, lần mò bằng kinh nghiệm thực hành là chính. Học ở trường Cao đẳng Mỹ thuật vừa đúng một niên khóa, tôi cho là tạm đủ, nên nghỉ học. Có thể do tự học nên dễ dàng vượt được những khuôn phép gò bó . Về tư tưởng nghệ thuật, tôi ảnh hưởng nhiều ở nền văn hoá, văn học nghệ thuật Việt nam hơn là tây phương. Tuy vậy, tôi cũng rất thích tư tưởng nghệ thuật của Alain, có thể là ông ta gần với đông phương.

Không khí huyền bí mà chị nói, chỉ là không khí bầu trời của những giấc mơ, của những cơn mộng mị. Tôi không thích tính chất phũ phàng của cái gọi là hiện thực. Con người trong tranh tôi chỉ là một nhân vật, không còn là một cá nhân có căn cước lý lịch. Nghệ thuật thường có phần gần với thi ca. Nó tạm thoát khỏi cái thực tại để nhìn lại một cuộc sống một cách thư thái và trong sáng hơn.

 

2.
trả lời đài VNVN
do Vũ Thị Thơ ghi lại (Văn, 55&56-tháng 8-2001)

Lối vẽ của tôi ít chú trọng đến độ dày mỏng của chất sơn, khi tôi vẽ bằng sơn màu. Vả chăng màu sắc còn tùy thuộc ở mực độ ánh sáng trong khi người họa sĩ sáng tác. Còn việc pha màu, máy vi tính trợ giúp một cách chính xác, nhanh chóng, đỡ cho người họa sĩ phải mất thì giờ tìm tòi, thữ thách, để có thể tập trung vào việc sáng tạo.
(Từ cây cọ đến con chuột)

Thái Tuấn

 

Họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi

‘Một đôi điều’với nhà văn Trần Doãn Nho
(tạp chí Văn, 52 tháng 4-2001)

Anh viết truyện , sáng tác nhạc, và hình như làm thơ nữa, anh thấy giữa các bộ môn nghệ thuật này, có gì giống nhau, có gì khác nhau về mặt cảm xúc, tư tưởng chủ đạo, quan niệm sáng tác ?

Trước hết tôi phải thành thật mà nói những công việc trên tôi không nghĩ là mình có thể trở thành chuyên nghiệp được. Viết truyện, làm thơ hay làm nhạc vv...với tôi đó là những hứng thú trong quá trình làm việc với mỹ thuật. Nó cũng lại giống như bao nghệ sĩ khác. Sau lúc làm việc chúng ta có thể cao hứng chộp lấy cây kèn mà thổi một khúc nhạc, hay huýt gió bâng quơ, hoặc chơi với màu sắc...Riêng về âm nhạc, tôi có được ít khả năng thiên phú ngay từ thuở nhỏ. Tôi viết nhạc, dùng nó như một trao đổi tình cảm. Nó giống như một nụ cười thân thiện.

Trong sáng tạo, tất cả mọi bộ môn, theo tôi, đều phải có cảm xúc trước hết. Nhờ vào những rung động mà ta có thể vận dụng được những tri thức đôi khi tưởng như đã chôn kín rất lâu mà xây dựng tác phẩm. Những phương tiện sáng tạo để hoàn thành tác phẩm  cũng có phần giống nhau. Tôi dùng ba màu căn bản để phối hợp thành sắc độ, cũng như anh dùng 24 chữ cái tạo thành câu, hay dùng bảy nốt nhạc tạo thành giai điệu vv...Màu sắc đẹp không phải là ba màu chính đẹp mà do tôi biết cách dùng nó. Câu văn hay không phải do 24 mẫu tự nó hay mà là do chính anh dùng thế nào đấy. Giai điệu cũng vậy nó vốn là cái tài tình dụng bảy nốt căn bản mà thôi. Bố cục bộ môn nào cũng cần, và bộ môn nào cũng có rất nhiều kiểu bố cục khác nhau, điều này đòi hỏi anh phải có khả năng. Tuy nhiên có một sự khác biệt giữa văn học và hội họa ngay tự bản chất. Bản thân văn học đều phải chứa đựng chuyên chở những sự việc và đôi khi phải lý giải sự việc. Còn hội họa thì không. Bản chất của hội họa là phô diễn cái đẹp thuần túy không cần phải chuyên chở một ý nghĩa nào. Tự thân cái đẹp là một ấn tượng sâu sắc lắm rồi. 

Cũng có rất nhiều trường hợp các tác giả lồng vào hội họa những ý nghĩa này nọ, và điều đó đã trở thành một sự quen thuộc không thể chữa được

Nguyễn Trọng Khôi

  

Họa sĩ Hồ Thành đức

trả lời tạp chí Canh Tân
số 13 tháng 7 - 1991

 ...Tôi nghĩ rằng chất liệu sáng tác của một hoạ sĩ, ví von một chút, cũng giống như những cây đàn của nhạc sĩ. Với tay chơi nhạc điêu luyện thì cùng một cây vĩ cầm, muốn kéo một bản một bản nhạc cổ Việt Nam cũng được, mà chơi một concerto cũng được. Có lẽ chỉ vì với quan niệm thường tình, mọi người vẫn nghĩ rằng vĩ cầm ra đời ở phương tây nên chỉ chuyên dùng trong các bài hợp tấu tây phương mà thôi chăng ?

Tôn giáo xưa nay đối với tôi vẫn là một trong những đề tài chính yếu. Cũng không phải là Phật giáo không đâu. Tôi theo đạo Phật thì dĩ nhiên là tôi vẽ tranh Phật nhiều hơn, và nhân dịp chào mừng Phật đản thì tôi trưng bày tranh Phật nhiều hơn, nhưng bên cạnh đó thì tôi vẽ tranh Chúa cũng khá nhiều. Nhất là chân dung của Chúa. Từ bé đến lớn tôi có một đời sống tinh thần mà mối tương quan giữa cái hình ảnh thập giá của Chúa với đời sống dân mình khá gần gũi và điều đó đã ảnh hưởng, thâm nhập khá sâu trong tâm hồn mình. Kết quả là những giải thưởng chính tôi thu gặt ở nước ngoài là các tác phẩm vẽ tranh Chúa nhiều hơn đó chứ.

 

Hồ Thành đức

 

Họa sĩ, điêu khắc gia Lê Thành Nhơn

trả lời nhà văn ỷ Lan
tạp chí Quê Mẹ
(số 153 & 154 tháng 1 & 2 - 2000)

...Tôi là người điêu khắc, tôi chơi với viên sỏi nhỏ và cục đất sét, chứ đâu có làm gì mà thích nổi tiếng...Bản chất của con người tôi cũng như cục đất, cũng đơn sơ và trung thành với công việc nho nhỏ vậy thôi. 

Tôi là người của tâm linh. Tôi tin mỗi tác phẩm của tôi làm ra có tính mạng của nó. (về Hội họa, Lê Thành Nhơn, nói về 4 bức tranh : Gió, Nước, Lửa và đất) :  

Gió, Nước, Lửa và đất được thực hiện bằng sơn dầu trên bố trong khoảng thời gian 5 năm. Mỗi tác phẩm cao 2 thước , dài 6 thước. 4 tác phẩm cộng lại 24 thước. 

Tranh Gió : đầu bức tranh là hình vũ trụ đang thành hình từ sự đối đãi giữa âm dương. Con người và vạn vật thành hình rồi tan biến. Dọc theo thời gian trú xứ trên địa cầu, con người tạo tác ra thiên hình vạn trạng, và đồng lúc con người cũng hủy diệt theo thiên hình vạn trạng. Vạn vật và con người ra đi không lưu dấu vết. Duy phần thiêng liêng qúy báu và cao cả của con người và vạn vật tồn tại. đó là tình yêu và linh thức, như cơn gió lớn bay miết không ngừng.

Tranh Nước : Nước là hình ảnh chuyển động của vũ trụ càn khôn, của kiếp người, của sự chuyển tiếp từng giai đoạn lịch sử, hiện ra ở đầu bức tranh. Giờ chiến thắng huy hoàng thì họ cất cao tiếng hùng ca của họ. Lúc chung cuộc thất thủ, thì họ sầu bi khóc than ai oán. Người anh hùng, quân tử, kẻ tiểu nhân, người hiền, kẻ ngu, trang giai nhân tuyệt sắc cũng như kẻ tù đày. Tất cả đều phải trôi theo giòng của đời qua cái cửa gọi là Cửa Trần Hoàn.  đó là bố cục tranh Nước.

Tranh đất :đầu bức tranh đất, là mái âm dương. Thấp thoáng hồn linh trở lại đầu thai vào hiện kiếp. Cát bụi trở mình chuyển nghiệp - chỗ đó tôi vẽ hình ảnh ‘spiral’lớn - đi vào cõi sống thịnh vượng dưới ánh mặt trời. đồi rung lên trên từng mặt đá, mưa hoang sơ thung lũng, nơi có suối giải bạc, có đồng hoa như thảm trải, có vàng nạm, rừng khuất ngoằn nghoèo, đường qua truông, thườn thượt đuôi con chim địa đàng nối gió, núi thổi rừng trôi màu hợp tấu. Trường ca con vượn lửa. Bầy két trắng, ngỗng màu vàng mỏ đỏ gọi mây về tưới sữa trên đầm. Nương hồng lá ngọc giọt lưu li rơi ướt mảnh trăng trong nơi cây đa suối nguồn. Trải tràn trên mật ngọt. Rừng lên xanh. Mẹ đất nằm nghiêng.

Tranh Lửa : ở nơi chốn âm ti có lửa vô gián. Lửa vô gián đốt người có tội vạn lần. Dưới vạn lần lên, và trên vạn lần xuống. Tội của họ là tội gì ? Tôi vui quá, giận quá, tham quá. Nơi cõi Phật có lửa tam muội. Lửa tan muội phát sinh chánh định và lòng từ bi thành đức hy sinh cho kẻ khác. Tu hành và chứng ngộ thì phát hào quang. đầu tranh lửa là hình ảnh khung trời mở rộng, hình ảnh khai hoa nở nhụy, biểu tượng cho sinh nở, sáng tạo. Giờ khai hoa nở nhụy là sinh hay sáng tạo. Còn cửa âm ty, là cửa tử, cũng kề bên cửa tử sinh với cửa Phật. Cửa sinh tử lúc đó rất mù mờ. Giờ đó tắt hay cháy, cái thai mang từ một nghiệp chướng hay từ một yêu thương đều không thể nán lại được. Giờ đó là giờ của sự cô độc, của sinh sản, của người nghệ sĩ sáng tạo hay là của bà mẹ đang tới giờ sinh. Bà mẹ cô độc đưa đứa con vào đời, máu của họ trào càn cái mặt của họ. Phút đợi chờ tắt thở đó tiếng khóc hài nhi duy nhất là ngọn lửa sưởi ấm kiếp người của bà mẹ mà thôi.

Ngọn lửa thứ hai - phần màu vàng , nói lên sự tu chứng và giác ngộ của con người được sinh ra vào đời. Con người tu mà không biết lúc nào chứng, lúc nào giác ngộ. Trong tranh mình hy vọng như vậy.

Ngọn lửa thứ ba ở cuối tranh, nói về tình yêu giữa con người và con người, và niềm hy vọng, bố cục màu xanh. đó là ý nghĩa 4 tác phẩm. 

Tôi sẽ vẽ một loạt tranh mới với màu nắng ở vùng núi Alpes. Hiện tại tôi đang gíu

nuôi trong lòng màu nắng đó. Tôi có rất nhiều tranh sơn dầu vẽ hồi năm ngoái. Năm nay như đã thưa với chị, tôi vừa thực hiện xong vùng nam nước Pháp những tượng đá có tên ‘Le Chant De Pierre Et Des Oliviers’(Tiếng đá hát và ô liu ca). đó là những symphonies cực kỳ trầm hùng theo tiếng đổ đá hàng ngày, như một đại tấu khúc số 5 của Bethoven.  đó là tình yêu của tôi đối với vũ trụ và âm thanh dâng hiến đời. Những công trình cũ dường như tôi đã quên rồi, nó đã đi qua...

Lê Thành Nhơn

 

Họa sĩ Khánh Trường

trả lời nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh 
(trích từ phần phụ lục tập truyện Chung Cuộc Tân Thư xuất bản - 1997)

 Một bất hạnh (cũng có thể may mắn ?) : tôi không xuất thân bất cứ trường ốc nào. Thuở nhỏ mê vẽ, chưa kịp học vẽ, đã phải khoác lên người bộ quân phục Giải ngủ không bao lâu thì biến cố 1975 ập tới, áo cơm lao đao, thê nhi lận đận, tuổi lại chẳng còn trẻ trung chi mấy, muốn học, cũng đã muộn màng. Trong số buổi nói chuyện với vài anh em trong ban chủ trương tờ Thiện Chí, bên đức, tôi có tâm sự : Tôi biết vẽ từ khi biết cầm... các cái than củi, mảnh gạch, ngói vỡ (trên các bức tường quyét vôi trắng), rồi bút chì, bút rông, bút lá tre (trên tập vở học trò...), rồi màu nước, bột màu, sơn dầu (trên giấy, vải,bố) Từ ấy đến nay hơn một phần ba thế kỷ, tìm tòi, đọc, tập luyện, thể nghiệm hết sức cam go Con đường từ A qua B, nếu có người hướng dẫn, chỉ mất nửa giờ đến đích. Tôi đi một mình, lại không có bản đồ, có khi lòng vòng mất cả ngày. Tuy nhiên, trong cái khó ló cá khôn : nhờ khổ công tìm kiếm, tôi khá vững về hình họa (nhiều họa sĩ Việt Nam, dù xuất thân trường ốc đàng hoàng, muốn vẽ một bàn tay, một khuôn mặt, một đồ vật ‘đâu ra đó’ vẽ không xong. Những vị này lúc còn học trong trường thường ‘khinh bỉ’hình họa, muốn đi tắt, đi nhanh nên chỉ thích bôi màu xanh đỏ tím vàng đầy khung bố, đợi ráo mặt, đổ xăng đổ dầu lên trên cho co cụm nhăn nhúm lại để tạo ‘chất’, xong, lật ngang lật dọc, thêm , bớt chút đỉnh cốt hơi giống giống cái gì đó, rồi đặt một cái nhan thật ‘nổ’, thật bí hiểm, và gọi đó là tranh siêu thực). Về quan niệm tạo hình, tôi khá độc lập, bởi không học ai nên không bị ảnh hưởng bất cứ trường phái, bậc thầy nào, không bị những cái bóng lớn của các trường phái bậc thầy đè cho ngộp thở ! Nói theo ngôn ngữ của nhà văn Mai Thảo:

‘Tôi tự do phơi phới một đời’ Muốn vẽ gì thì vẽ, thích vẽ gì thì vẽ, ‘chế’ ra cách vẽ., tạo ra ‘họa phái’ để vẽ.

Như thơ, như văn, tôi đến với hội họa trong tư cách một nghệ nhân nghiệp dư. Và tôi tự cảm thấy bằng lòng tư cách ấy. Nó hợp với tâm tính tôi : không muốn bị ràng buộc vào bất cứ công việc gì có tính cách nghiêm chỉnh, với những giáo điều, những qui tắc, những định chế đúc sẵn. ‘Tôi là con chim đến từ núi lạ / ngứa cổ hót chơi’ (Xuân Diệu). Vâng,văn chương, nghệ thuật, với tôi, chỉ là một cách ‘ngứa cổ hót chơi’. Chừng nào còn thích, còn hót, hết thích, nhường chỗ cho người khác hót, tôi đi chỗ khác chơi.

 Hội họa là cái đẹp được biểu hiện bằng đường nét, màu sắc bố cục. Hội hoạ có mặt ở mọi thời, mọi nơi, kể từ lúc con người thoát khỏi bóng tối man rợ của cầm thú, vụng về cầm vật cứng vạch lên vách đá, thân cây. Nhưng cái đẹp biến thiên qua từng giai đoạn lịch sử của loài người.....

Hội họa bây giờ kết hợp mật thiết với trang trí, người ta không chú trọng đến ‘đề tài’ mà chỉ cốt tạo được cảm giác tươi vui, thoải mái cho người xem. Và bức tranh không còn là một chủ thể độc lập, nó trở thành nhân tố của tổng thể, nó phải đóng đúng vai trò của mình, sao cho hòa điệu với tổng thể.

Cá nhân tôi, những năm còn trẻ, như hầu hết mọi hộa sĩ Việt Nam, tôi chịu ảnh hưởng rất nặng các trường phái hội họa âu châu, nghĩa là khi xem tranh, ngoài màu sắc, đường nét, kỹ thuật...tôi không thể không cố tìm cái phần ‘sâu thẳm’ nằm sau bề mặt của tranh:

họa sĩ muốn nói cái gì, đâu là tư tưởng của ông ta, đâu là triết lý nhân sinh, đâu là tư duy triết học, vân vân...Ngày nay, sắp qua hết một đời người, mới thấy rằng những thứ lỉnh kỉnh, râu ria ấy cốt chỉ để làm dáng cho vui, chứ bản chất của cái đẹp, tự muôn đời, vốn giản dị. Vì thế, khi xem tranh hoặc vẽ tranh, bây giờ, tôi không còn vụ vào đề tài, không mất công tìm kiếm phần ngần nằm sau mặt tranh, có khi chỉ xuất phát từ nhu cầu phiêu lưu của căn tính trí thức, hoặc bị những lời tán hưu tán vượn của các nhà phê bình hội họa mê hoặc.

...Nghệ thuật là cái đẹp, là làm cho mọi vật quanh ta trở nên đẹp. Nếu hiểu giản dị như vậy thì trình bày bìa sách cũng là một cách làm nghệ thuật. Tuy nhiên công việc này phần lớn dựa vào kinh nghiệm nhiều hơn tài năng. Cũng hàng chữ ấy, cũng kiểu chữ ấy, cũng tấm hình ấy, cũng bức tranh ấy, cũng khuôn khổ ấy, nhưng đặt vào chỗ nào, đặt làm sao cho thuận mắt, tức khắc mọi cái trở nên đẹp. Giản dị vậy thôi. 

Khánh Trường

 

Xin bấm vào đây để xem tiếp