PHAN BÁ THỤY DƯƠNG

 

Chuyện Vui Với Chưởng Môn Người Làng Hà Thượng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Năm 1997 sực nhớ nếu miền Nam không mất vào cuối tháng 4 năm 75 th́ chắc hẳn tôi đă được về hưu, hưởng an nhàn từ lâu, kể từ khi vừa đáo hạn tuổi 55. Từ ư niệm này, tôi đă quyết định xin từ nhiệm ngay với công ty tư vấn tài chánh Eccenture. V́ công vụ và chờ người điền khuyết măi đến cuối năm 1999 tôi mới được “thoát thân”.

Tánh vốn ưa ngao du, từ đó tôi tạt Âu về Á mỗi vùng rong chơi năm ba tháng. Khi hết hứng thú th́ trở về miền Trung du Hoa Kỳ để tiếp tục hành tŕnh lang thang chạy đến các tiểu bang khác ngoạn

ảnh Hà Thượng Nhân

cảnh hoặc thăm viếng anh em, bạn bè. Việc gặp gở, liên lạc lại với một số thân hữu và nhất là nghe những lời có vẻ “thuận tai” của những bạn bè trong giới văn nghệ cũ, nên cuối năm 2004 tôi đă tham gia vào nhóm chủ trương biên tập của một tờ tạp chí tại San José, sau gần 33 năm gác bút. Tại đây tôi đă gặp lại Hà tiên sinh.

Với những người hoạt động lâu năm trong giới truyền thông, báo chi th́ hầu như ai cũng ít nhiều nghe danh, biết đến cụ Hà Thượng Nhân. Tiên sinh là người nổi tiếng về tài làm thi phú nhanh -có thể nói là xuất khẩu thành thơ- cũng như về đức độ, về tính t́nh ôn nhu, phóng khoáng.

 

Ở tuổi hoa niên, lúc mới bắt đầu làm thơ tiên sinh lấy bút hiệu là Hoàng Trinh. Cụ là bạn thơ cùng thời với những thi sĩ tiền chiến hữu danh như: Hoàng Cầm, Huy Cận, Hữu Loan, Phùng Quán, Quang Dũng, Thâm Tâm, Trần Dần, Xuân Diệu... Trong số những người này, tiên sinh chơi thân thiết nhất với Hữu Loan, tác giả bài thơ được người người ưa chuộng, lưu truyền rộng răi: Màu Tím Hoa Sim. Hai người vốn là bạn cùng quê, cùng lứa tuổi nên sau này vẫn xưng mày-tao-chi-tớ mỗi khi gặp nhau chuyện tṛ. Hai người c̣n được dân Thanh Hóa gọi là Tú Trinh và Tú Loan v́ thời đó rất hiếm người đậu được bằng tú tài toàn phần, tức bằng Bac complet. Nhà thơ Hữu Loan nhận giải Văn chương toàn sự nghiệp năm 2007 của nguyệt san Khởi Hành vừa rồi, một phần lớn là nhờ sự giới thiệu của ông.

Hà Thượng Nhân tên thật là Nguyễn Sĩ Trinh, sinh năm 1919, quê làng Hà Thượng, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1945, sau khi rời bỏ kháng chiến, dinh tề, tiên sinh được thầy Phạm Xuân Độ nhận làm nghĩa tử, nên đă được đổi tên thành Phạm Xuân Ninh. Sau này, ông lấy bút hiệu Hà Thượng Nhân là để kỷ niệm về nơi chôn nhao cắt rún của ḿnh.

Trước khi vào Nam tiên sinh dạy học tại trường Dũng Lạc ở Hà Nội. Chắc hẳn v́ vậy mà đầu tháng 8 năm nay [2009] sau khi thoát cơn bệnh thập tử nhất sinh cụ đă đồng ư chịu lể rửa tội và chọn tên thánh là Phéro Dũng Lạc.

Sau khi di cư vô Sàig̣n không lâu tiên sinh giữ mục Đàn Ngang Cung cho nhật báo Tự Do và năm 1958 tiên sinh phụ trách chuyên mục Những Điều Trông Thấy cho nhật báo Ngôn Luận với một bút hiệu khác là Nam Phương Sóc. Bằng giọng thơ trào phúng, tiên sinh đă đả phá, phê phán những thói hư, tật xấu của thói đời, những hành vi, hiện tượng thiếu trong sạch của giới hữu trách, những người có chức vị trong chính quyền, chính trường...

Tiên sinh là người uyên bác và quen biết hầu hết với những nhân vật lảnh đạo, chính trị quan trọng của cả 2 nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Ḥa, cũng như những văn nghệ sĩ hữu danh miền Nam. Cụ rất được mọi người mến yêu, kính nể.

Năm 1955 tiên sinh được cụ Ngô Đ́nh Diệm bổ nhậm về phục vụ tại Pḥng 5 với cấp bậc đại úy đồng hóa. Đơn vị này là tiền thân của ngành Chiến Tranh Tâm Lư hay Tâm Lư Chiến [Psychological warfare] - thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLCNCH. Ngành này kể từ những năm đầu thập niên 60 đă càng ngày càng được mở rộng khắp các quân binh chủng, binh đoàn và cải danh thành Chiến Tranh Chính Trị [Political warfare] mà tướng Trần văn Trung làm Tổng Cục Trưởng. Riêng Nha Chiến Tranh Tâm Lư sau này được đổi thành Cục Tâm Lư Chiến, một cơ quan chiến lược quan trọng về chánh sách lục đại chiến, bên cạnh Mưu Lược Chiến, Tư Tưởng Chiến, T́nh Báo Chiến, Tổ Chức Chiến, Quần Chúng Chiến. Cơ quan này do đại tá Hoàng Ngọc Tiêu thay thế đại tá Vũ Quang giữ nhiệm vụ Cục trưởng cho đến ngày miền Nam VN bị Cộng sản Bắc phương xua quân chiếm cứ. Hoàng tiên sinh tức thi sĩ Cao Tiêu cùng Hà tiên sinh là 2 trong những kẻ sĩ uyên thâm Nho học hiếm hoi c̣n sót lại tại hải ngoại ngày nay.

Nhờ việc bành trướng ngành này nên quân lực ngoài tờ Chiến Sĩ Cộng Ḥa lại có thêm 2 tờ báo mới là nguyệt san Tiền Phong [hậu thân của tờ Phụng Sự Bộ Quốc Pḥng] và nhật báo Tiền Tuyến. Sau khi tờ Tiền Tuyến ra mắt không lâu th́ Trung tá Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân được điều động về thay thế TTá Lê Đ́nh Thạch trong vai tṛ Chủ Nhiệm v́ T/Tá Thạch được chuyển về Phủ Tổng Thống. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của tiên sinh tờ Tiền Tuyến đă sớm phát triển và trở nên một nhật báo lớn phổ biến rộng răi và qui tụ hầu hết các văn thi sĩ, kư giả, phóng viên hữu danh của miền Nam VN thời bấy giờ. Đến năm 1972 th́ tiên sinh xin giăi ngủ v́ hội đủ điều kiện mang lon hơn 7 năm chưa được thăng cấp.

 

Đầu tháng 5/2005 tôi nổi máu giang hồ vặt, “thoát ly” gia đ́nh chạy qua miền Bắc Cali với ư định trực tiếp cải tiến, mở rộng tờ tạp chí để anh em cũ, nhất là những bằng hữu c̣n kẹt lại trong nước có chỗ trở lại sinh hoạt sau một thời gian dài bị chế độ Cộng sản gạt ra ngoài lề hoặc họ không muốn uốn cong ng̣i bút để cộng tác với một cơ chế kềm kẹp, tồi tệ, gian trá... Tại nơi lưu cư mới này tôi và tiên sinh đă hầu như hằng ngày gặp nhau để thù tạc, hàn huyên chuyện xưa, người và việc cũ. Lúc này dường như tiên sinh vui vẻ hơn, làm thơ nhiều hơn và thường giao cho tôi để nhờ đánh máy, phổ biến nếu cần hay có người yêu cầu. Đôi khi vừa làm được bài thơ đắc ư nào tiên sinh đều đọc cho tôi nghe, ngay cả lúc đă vào đêm khuya hay khi trời chưa kịp sáng.

 

Như đă nói ở trên tiên sinh là người có tài nhả ngọc phun châu và làm thơ rất nhanh. Sáng ngày 01-09-2006 trong lúc tôi, tiên sinh đang uống trà đàm đạo cùng anh Vũ Đức Nghiêm th́ được tin anh Hoàng Anh Tuấn vừa từ trần. Tiên sinh buồn bă cất tiếng than và lập tức viết ngay bài thơ Khóc Hoàng Anh Tuấn. Bài này, ngày hôm sau tôi đă trao cho Phạm Hùng -em trai của anh Phạm Huấn- để Ban Tổ Chức đọc truy điệu trong ngày chúng tôi dự tang lể Hoàng thi sĩ tại một nghĩa trang trên San José.

 

Cho đến nay tiên sinh đă làm cả chục ngàn bài thơ đủ thể loại, nhưng phần lớn là thất ngôn. Qua loại Đường thi này tiên sinh quả là người có tâm linh sâu sắc, là bậc thượng thừa trong việc vận dụng bút pháp, thi thanh, âm điệu và h́nh ảnh... Về những bài thơ dịch th́ cũng đă thể hiện đầy đủ các yếu tố: hiệp thời, hiệp ư và hiệp thể khó có người sánh kịp.

 

Tuy làm thơ nhiều nhưng có điều tiên sinh thường trao tặng cho các thân hữu, ít khi lưu trữ và chưa hề tự xuất bản các tác phẩm của ḿnh. Tôi c̣n nhớ trước 75, có một năm, khi tờ báo Sống sắp thực hiện số báo Tết, nhà văn Chu Tử  đă hỏi xin tiên sinh một bài thơ Xuân và đă trả cho Hà tiên sinh ba chục ngàn đồng. Nên nhớ báo chí thời bấy giờ rất hiếm khi có tờ chịu trả tiền nhuận bút cho thơ. Nếu có th́ cũng chỉ trả tượng trưng một vài ngàn cho các thi sĩ thành danh, cộng tác thường trực hoặc thân quen. Đây có thể được coi là một trường hợp hi hữu dành cho một tác phẩm thi ca. Chính v́ vậy mà từ ngày về tạm trú tại quận Cam, giúp cung cấp bài cho vài tờ báo Xuân ở đây, riêng bài của Hà tiên sinh tôi luôn yêu cầu các vị chủ báo trả tiền nhuận bút cho thơ, câu đối Tết...

của cụ cao gấp năm ba lần số tiền trả cho các người khác.

 

Hơn 3 năm trước cô Huệ Thu một người mến mộ cụ Hà ở San José đă gom góp một số thi phẩm của tiên sinh để ấn hành một tập thơ với số lượng rất hạn chế để phổ biến trong giới thân hữu giữ làm kỷ niệm, thưởng ngoạn.

 

Sau gần 2 năm tạm trú trên vùng thung lũng hoa vàng đó tôi lại nổi máu phiêu lưu nên đă di chuyển xuống Westminster. Tuy vậy, cứ năm ba tháng tôi lại chạy lên thăm viếng cụ cùng các niên trưởng, anh em thân hữu. Trong lần gặp mặt mới đây, khi vui vẻ hàn huyên, tôi đă cho tiên sinh hay về việc nhiều độc giả và thi hữu đă ca ngợi bài thơ Ngông của tiên sinh sau khi tôi cho phổ biến trên các trang thơ do tôi phụ trách. Nhân dịp tôi đă t́m hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài thơ bất hủ này. Với tôi, đây là một đọan trích trong những cuộc hội thoại vui, hứng thú đáng ghi nhớ:

 

-        Thưa tiên sinh, trong những bài thơ của tiên sinh mà tôi có trong tay, phải công nhận Ngông là một bài thơ đặc sắc, tuyệt hay. Xin tiên sinh cho biết tiên sinh đă sáng tác thi phẩm này lúc nào? Có phải là sau khi tiên sinh được giải ngủ và rời cương vị chủ nhiệm, chưởng môn tờ Tiền Tuyến?

 

-        Anh cũng đă hiểu lầm như nhiều người khác. Tôi làm bài thơ này lúc c̣n trẻ sau khi ly khai, từ bỏ “kháng chiến” về Hà Nội. Lúc ấy tôi mới hơn 23 tuổi th́ phải. Người ta bảo lảo lai tài tận thật không sai. Trí tuệ bây giờ đă bị lảo hóa nên chuyện xa xưa tôi không c̣n nhớ chính xác lắm về chi tiết.

 

-        Nghiă là đă làm trước khi tiên sinh di cư vào Nam. Theo cặp kết ở cuối bài: “Buông câu xốc áo quay nh́n vợ, Trời đă chiều chưa, ta đă say?th́ chẳng lẽ lúc ấy phu nhân đang “kè kè” bên tiên sinh sao?

 

-        Đâu có, khi ấy tôi làm ǵ đă có vợ. Giá có, chưa chắc “ẻn” chịu theo tôi đi vào nơi hoang vắng, quạnh hiu để tiêu khiển, lo công việc phục dịch trà dư tửu hậu cho chồng. Anh nghĩ xem, trong hoàn cảnh cá nhân c̣n nhiều khó khăn, xă hội đang nhiễu nhương như vậy tôi làm ǵ yên tâm để toan tính việc “ca bài hôn phối”.

 

 

-        Th́ ra là sản phẩm của giả tưởng, hư cấu. Thưa, có phải tiên sinh muốn ngụ ư: “Tôi về nhà cửa sương thâu. Bước đi mà chẳng thấy đâu con đường”@.

Trong hoàn cảnh phiêu linh thế đó sao tiên sinh có thể an định tâm trí để nhàn nhả đi câu và dệt nên những vần thơ hào khí, cuồng ngông tuyệt vời như vậy?

 

-        Cũng hư cấu luôn.

 

-        Thế c̣n 2 câu đầu bài thơ: “Quay ngựa xích thố buộc khóm trúc. Ném gươm long tuyền về non Tây  th́ thế nào thưa tiên sinh? Theo tôi biết, kiếm long tuyền là gươm của vua chỉ dành ban cho tể tướng. Xích thố là loại ngựa hiếm quí mà Quan Công, bậc danh tướng đă cưỡi để chinh đông, phạt bắc giúp nghĩa huynh Lưu Bị của ngài tóm thâu thiên hạ vào thời tam quốc. Chắc hẳn tâm tư, ḷng tiên sinh lúc ấy đă nản, chí cả đă ṃn hao phân nửa. Tôi nói phân nửa v́ tuy tiên sinh đă ném gươm nhưng vẫn c̣n giữ lại ngựa xích thố. Có phải tiên sinh lúc ấy đă biết trước sau này sẽ “quy mă” nên hướng nào không ném mà chỉ ném về Tây phương để sau này từ bỏ quê hương sang Mỹ th́ tung hoành, sử dụng?

 

-        Anh đọc thi phẩm này khi thấy tôi ở đây nên suy diễn quá xa xôi kỳ ảo, chứ tôi làm ǵ có tài trực giác, tiên tri sớm như vậy. Nếu có, tôi đâu dại ǵ ở lại để bị bọn Cộng sản lùa vào tù, đày đọa hàng chục năm trong lao lung, khổ nhục...

 

-        Lại cũng là chuyện không có, mà c̣n được bịa một cách thật tinh xảo. Nghe nói trước 75 có lúc tiên sinh đă được đề cử làm phụ tá bộ trưởng nhưng tiên sinh đă từ chối. Giả sử lúc đó họ trao kiếm long tuyền cho tiên sinh nghĩa là mời làm thủ tướng th́ liệu tiên sinh có ném gươm đi không?

 

-        Chẳng có trong tay nên tôi mới viết như thế cho có vẻ oai phong thần vỏ, ngông cuồng một chút thôi. Thời tuổi c̣n xuân xanh, ḷng đầy nhiệt t́nh, tôi cũng mong ước được cống hiến tài sức của ḿnh cho đất nước lắm chứ.

 

-        Có thể tiên sinh c̣n vui sướng, hân hoan, giấu kỷ báu kiếm v́ sợ người ta tiếm đọat, cưỡng chiếm nữa là khác?

 

-        Không chừng là vậy.

 

-        Thưa tiên sinh, mới đây khi nhận giải thưởng văn chương Jerusalem của Israel, nhà văn Murakami Haruki đă phát biểu:
”Hôm nay, tôi đến Jerusalem với tư cách tiểu thuyết gia, nghĩa là một chuyên gia bịa chuyện. Tất nhiên, chẳng phải chỉ có tiểu thuyết gia bịa chuyện mà thôi. Chính trị gia cũng bịa chuyện, là điều ai cũng biết. Những nhà ngoại giao và những tướng lănh tùy lúc mà bịa chuyện trong giới của họ, không khác ǵ những người bán xe cũ, hàng thịt, hay thợ xây cất. Tuy nhiên, chuyện bịa của tiểu thuyết gia th́ khác với những giới khác ở chỗ chẳng ai phê phán tiểu thuyết gia là vô đạo đức khi tạo dựng hư cấu. Mà thực tế, tiểu thuyết gia càng khéo léo bịa đặt những chuyện hư cấu to lớn và tinh xảo, th́ lại càng được quần chúng và các nhà phê b́nh khen ngợi..”

Xem ra nhà văn Nhật bản này quên, c̣n chưa đề cập đến giới thi sĩ. Mấy ông thần mơ mộng, ḷng đầy hoang tưởng này cũng là những chuyên viên bịa chuyện, vẽ vời t́nh tiết thuộc hàng cự phách. Điển h́nh cụ thể, chính xác nhất là tiên sinh qua bài thơ Ngông. Tiên sinh đồng ư chứ?

 

-        Anh cũng là người viết văn làm thơ, chẳng lẻ anh chưa từng tạo hư cấu. phiạ chuyện trong tác phẩm của ḿnh sao? Thôi đă đến giờ hẹn rồi, ḿnh đi là vừa. Anh Vũ Đức Nghiêm vừa được cô em dâu dưới Westminster gởi lên biếu nửa kư thịt cầy. Anh ấy mời tôi và anh đến chung vui. Chắc vợ chồng anh ta đang đợi.

 

-        Dạ, th́ cũng phải bắt chước tiểu xảo của các vị đàn anh, phịa sơ sơ t́nh tiết cho ra vẻ hoa lá cành, cho bài viết trở nên tươi đẹp hay buồn nảo, bi thảm hơn chút ít để dể gây xúc động ḷng người chứ. C̣n buổi tiệc hôm nay th́ Vũ huynh đă báo với tôi hôm qua. Tôi đưa tiên sinh đến thưởng thức món khoái khẩu của tiên sinh, nhưng tôi phải ghé tiệm Thanh Hiền lấy mấy hộp nhắm khác v́ tôi “kỵ” món hiếm thấy, khó t́m ở đây này.

 

-        Ủa, lạ nhỉ. Anh là người uống rượu, sao lại không ăn được thịt cầy? Ngày trước anh thường cùng 2 anh Phạm Lê Phan, Tường Linh tụ tập, la cà cuối tuần ở các tiệm nổi tiếng khu Nguyễn văn Học và LưThái Tổ, thế anh đến đó làm ǵ?

 

-        Tôi ham vui, các anh ấy rủ th́ đến ăn bánh tráng nhắp bia với đậu phộng thôi. Thấy 2 me xừ này ăn nhậu ào ào hết xị này đến xị khác, hết món rựa mận này đến dĩa dồi kia, họ lại c̣n ra điều thích thú, hả hê tôi cũng thèm lắm. Nhưng dù 2 anh ấy “dụ khị”, thuyết phục cách nào tôi cũng không dám thử các món chưa quen đó.

 

-        Anh đă về thăm Sài g̣n mấy năm trước, chắc biết họ hiện giờ ra sao?

 

-        Dạ, anh Tường Linh đă hom hem lắm rồi, bị đủ thứ bệnh, chẳng mấy khi ra khỏi nhà. C̣n anh Phạm Lê Phan th́ v́ giấu lư lịch nên sau khi Vi Xi chiếm Sàigon đuổi dân, bắt quân cán chính vào các trại tù, các trại tập trung lao động khổ sai, anh đă xin đi một vùng kinh tế mới tại Lâm Đồng. Tại đó anh sống bằng cách hàng ngày đi câu cá và nghe nói mấy năm sau bị sét đánh chết ngoài ruộng trên đường mang cá về cho gia đ́nh trong một chiều mưa giông.

 

-        Tội nghiệp. Anh Kiệm và Linh là 2 trong những người hiền lành mà tôi luôn quí mến...

 

Trên đường đến nhà nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, bổng tiên sinh quay sang tôi cười một ư nhị rồi từ tốn bảo:

 

-        Vừa rồi ở nhà tôi anh đă uống mấy cốc rượu chát của tôi lại c̣n nổi hứng chất vấn, hỏi han lung tung. Bây giờ chắc anh cũng chẳng hà tiện ǵ để cho tôi biết vài điều?

 

-        Dạ, xin niên trưởng cứ tự nhiên “như người Hà Nội”.

 

-        Anh không giao du nhiều, chẳng mấy khi chịu viết lách, sao tôi thấy những người thân quen với anh ai cũng mến mộ anh? Tôi thấy anh lúc nào cũng ung dung, nhàn nhă, luôn bay nhảy đó đây, sống độc thân, độc hành như vậy măi anh không thấy buồn sao?

 

-        Thưa, tại anh em, bằng hữu chưa biết ghét tôi đó thôi. Tôi thích rong chơi, phóng đảng một ḿnh như vậy quen rồi. Khi nhớ ai, hoài niệm người nào th́ tôi chạy đến thăm. Nếu lười đi xa, chưa gặp nhau được th́ tôi cứ h́nh dung, tưởng tượng là họ đang ở bên ḿnh, đang cùng ḿnh đấu hót, chén tạc, chén thù là cũng đủ vui rồi.

 

-        Thế c̣n các cô bạn gái, em gái tiền phương, hậu phương của anh th́ sao? Bộ chẳng có ai khuyên giải, giữ nỗi anh à? Nghe nói về món này anh cũng phong lưu lắm.

 

-        Dạ làm ǵ có. Tôi không muốn vướng lụy, lại cứ lang bạt, lười giao lưu... th́ ai mà không nản, rồi lâu ngày chày tháng trơ trụi cùng tuế nguyệt cũng phải kể như huề vốn thôi. Tôi vốn dĩ cù lần nên chỉ có vài em gái văn nghệ đúng nghĩa, thật sự, họ vẫn thỉnh thoảng liên lạc và đùa giởn, hoan hỉ với tôi qua các chuyện cà kê dê ngỗng... Như vậy th́ cũng đủ quên đời, c̣n đ̣i hỏi ǵ hơn cho tốn sức lao động.

 

-        Lần này tái xuất giang hồ anh lại chẳng c̣n chuyện ǵ vướng bận, anh có định trụ ở Cali để ngoan ngoản viết cùng anh em không hay lại cứ dở tṛ ló ló thụt thụt? Thấy anh ấn hành nhiều tác phẩm của người quen, sao anh không gom góp lại bài của ḿnh để in một vài cuốn với anh em?

 

-        Dạ, tôi đâu có mặn mà ǵ sâu đậm với việc làm báo. Anh em nhắc nhở, kêu gọi th́ cộng tác một thời gian. Hết hứng thú th́ bổn cũ soạn lại đi t́m nguồn vui khác. Bài vở viết xong th́ coi như nhẹ gánh tang bồng, nên chẳng hề lưu trữ, lại làm biếng truy lục. C̣n ấn hành tác phẩm của ḿnh ư ? Nếu muốn tôi đă thực hiện từ  trước 75 rồi. Tiên sinh biết đó, khi vừa tṛn 57 tuổi là tôi đă tự v hưu. Con cháu yêu cầu, anh em thúc giục măi mà tôi vẫn cứ ù ĺ bấy nhiêu năm nay. Sau Noel này tôi sẽ bay qua nước khác sống vài năm. Chẳng biết với bầu không khí mới lạ xứ người có giúp tôi sáng tác, tối tác ǵ nữa không. Khi du lịch về rồi hăy tính. Các cháu đă lo tŕnh bày b́a sách xong mấy năm rồi, chỉ chờ tôi hoàn tất là chúng chuyển ngữ, lo việc xuất bản. Chắc tôi phải giảm bớt việc đi hoang để khỏi làm chúng thất vọng.

 

Nói đến đây th́ nhà Vũ huynh đă hiện ra trước mắt và câu chuyện vui cũng chấm dứt. Tiên sinh là người hiền ḥa, vui vẻ nên dĩ nhiên bầu không khí buổi hội đàm này luôn luôn thoải mái, đầy ắp tiếng cười. Để bạn đọc thấy rơ tài sáng tạo, trí tưởng kỳ ảo của tiên sinh, tôi xin trang trọng giới thiệu đến bạn đọc bài thơ Ngông vừa đề cập và vài bài thơ tiêu biểu khác của cụ:

  

 

 

    ảnh HÀ THƯỢNG NHÂN     

 

 

Ngông

 

Quay ngựa xích thố buộc khóm trúc

Ném gươm long tuyền về non Tây

Chí thôi đă lỡ, kệ binh lửa,

Danh vốn không màng, mặc cỏ cây.

Gà chó đôi con năm tháng rộng

Ruộng vườn dăm khoảnh gió trăng đầy

Buông câu, xốc áo quay nh́n vợ:

Trời đă chiều chưa? Ta đă say?

HÀ THƯỢNG NHÂN

 

Tự Thuật

 

1-

Muốn biết Xuân Ninh người thế nào?

Áo nâu, quần vải, khinh vương hầu.

Sông Trà diệu vợi thuyền Tử,

Đất Bắc ngang tàng đấng trượng phu.

Mải một nước cờ đêm gió mát

Đùa ba tiệc rượu sáng trăng Thu.

Uống xong ngoảnh lại nh́n ai hỏi:

Đời phụ ta chăng thế Vũ Hầu? *

 

2-

Mà có tiên cho! Có tục cho!

Vườn đào ngơ trúc lối quanh co.

Bạc tiền, cung điện, khôn câu thúc,

Trăng gió, giang hồ chỉ tự do.

Lúc hứng nhớ cuồng dăm đứa bạn,

Khi buồn ngâm láo mấy câu thơ.

A ha! Đường thế thênh thanh rộng,

Cửa động Thiên Thai hé đợi chờ.

HÀ THƯỢNG NHÂN

 

Trăng Thu

 

Sương mỏng manh canh vắng lặng tờ

Buồn đâu náo động mấy vần thơ

Rưng rưng mắt lệ chàng mong nhớ

Phới phới mây xa thiếp hững hờ

Bến quạnh lau già, người chểnh mảng

Rượu tàn canh vắng khách

Lầu cao ai đó nâng rèm trúc

Hồn lẻ đêm nay có thẩn thờ?

HÀ THƯỢNG NHÂN

 

Bài Tặng Phan Bá Thụy Dương

 

Người như ḍng thác đỉnh trời

Nước tung trắng cả nửa vời non cao

Ta vừa trong giấc chiêm bao

Gặp người chiến sĩ áo bào điểm sương

Người về có thấy bên đường

Hàng phong lan đă nhớ thương mà gầy

Từ đâu người lạc đến đây

Nhạc reo nghe đă mưa đầy hoàng hôn.

Phấn hương nào phũ mộng hồn

Bước chân phiêu lăng đă chồn mỏi chưa?

 

HÀ THƯỢNG NHÂN

 

 

đây là bài thơ tôi đă viết tặng lại tiên sinh:

 

Bài Tặng Hà Thượng Nhân

 

chung trà chén rượu u minh

thảo trang đường trúc một ḿnh quạnh hiu

sườn non đá dựng xiêu xiêu

nào hay tâm tịnh, sắc chiều mang mang

hỏi người mài kiếm dưới trăng

ngựa xưa ẩn mật hoá thân bao giờ

chim hồng đă mỏi cánh chưa?

[PBTD - trích Túy Mộng Du Du Hề]

 

Hiện tiên sinh đang trong t́nh trạng đau bệnh trầm trọng, sức lực cạn kiệt, ngũ quan hầu như không c̣n hoạt động b́nh thường và phải cần người săn sóc thường trực. Cũng may là các vị thân hữu trên ấy như các tiên trưởng Nguyễn Xuân Vinh, Đông Anh Nguyễn Đ́nh Tạo, Vũ Đức Nghiêm, Thanh Thương Hoàng, Ngô Đ́nh Chương, Trường Giang, các bạn Mạc Phương Đ́nh, Hải Bằng, Hải Phương, Hà Ly Mạc, Huệ Thu... vẫn thường xuyên đến thăm viếng tạo niềm vui cho vị chưởng môn luôn được mọi người trân quí này.

 

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG

@: Bùi Giáng dịch Canzoniere của Francesco Petrarca.

 

 

PBTD – © nguồn Viễn Đông Daily News.